Cách xóa DRM khỏi file PDF, ePub và video



Ở bài trước, tôi đã giới thiệu sơ lược về DRM (Digital Rights Management hay Quản lý bản quyền kỹ thuật số) và những lý do vì sao khiến nó lại... bị ghét đến vậy. Hôm nay tôi sẽ hướng dẫn cách xóa bỏ DRM khỏi các file ebook (sách điện tử) và video, để chúng ta có thể sử dụng những nội dung số mà chúng ta đã bỏ tiền mua ở bất cứ thiết bị nào chúng ta muốn.

Lưu ý rằng việc loại bỏ DRM khỏi các nội dung số sẽ vi phạm thỏa thuận sử dụng giữa bạn và nhà phân phối nội dung số, đồng thời, có thể khiến... mà thôi, chả ai quan tâm.

Bắt đầu nhé!

Chú ý: hướng dẫn dưới đây không nhằm cổ vũ cho việc tải và phát tán nội dung số có đăng ký bản quyền. Hướng dẫn này chỉ giúp bạn loại bỏ các hạn chế gây ra bởi DRM khi bạn có giấy phép sử dụng nội dung số, nói đơn giản: nếu bạn có thể mở được ebook bằng Adobe Digital Editions, bạn có thể xóa bỏ DRM theo hướng dẫn dưới đây. Nếu không, hãy ấn Ctrl + W.

1. Tải và cài đặt Adobe Digital Editions và Calibre.

Calibre là ứng dụng thư viện quản lý sách điện tử rất thông minh và mạnh mẽ. Kết hợp với plugin, nó gần như là vô địch trong lĩnh vực quản lý ebook. Calibre còn có rất nhiều chức năng phụ trợ khác, không thể không kể tới tính năng convert (chuyển đổi) định dạng file ebook.

2. Tải plugin DeDRM cho Calibre. Bạn tự xem link tải ở blog của Apprentice Alf nhé, tôi không đưa link trực tiếp vì nó có thể thay đổi sau này.

Sau khi tải, bạn sẽ giải nén ra được file DeDRM_plugin.ZIP. Tất cả các plugin giúp loại bỏ DRM khỏi nội dung số của Kindle, Adobe ePub, Adobe PDF và B&N ePubs đều được tích hợp sẵn trong file ZIP này.

3. Cài đặt plugin cho Calibre:




  • Mở ứng dụng Calibre mà bạn đã cài đặt ở bước 1.
  • Ấn nút Preferences > Plugins > Load plugin from file > chọn tới file ZIP mà bạn đã giải nén ở bước 2.
  • Hộp thoại "Are you sure" hiện ra, ấn Yes > OK.
  • Tắt Calibre và mở lại.



Đã xong bước chuẩn bị, từ giờ, bất cứ file nào bạn import vào Calibre sẽ đều được xóa bỏ DRM nhờ plugin DeDRM. Plugin này hoạt động rất nhanh nên bạn hầu như sẽ không nhận ra sự khác biệt nào so với lúc import các file trước đây.

Lưu ý rằng chỉ các file ebook được import từ sau khi cài plugin DeDRM vào Calibre thì mới được xóa bỏ DRM. Các file bạn đã import trước thời điểm cài plugin DeDRM thì vẫn còn nguyên DRM, bạn cần remove chúng và import lại.

4. Giờ là lúc cần dùng tới Adobe Digital Editions. Bạn hãy mở ứng dụng này lên.

Hãy truy cập vào thư viện hoặc cửa hàng mà bạn đã mua sách, chọn định dạng sách bạn muốn tải (PDF hoặc ePub,...) và ấn nút Download để tải sách về máy. Vì sách đã bị hạn chế bởi công nghệ DRM, nên cái mà bạn tải về là file ACSM chứ không phải file PDF hay ePub.

Nháy đúp vào file ACSM mà bạn đã tải về để mở nó lên. Thường thì Adobe Digital Editions sẽ tự chạy để mở file đó, nhưng nếu nó không tự chạy, bạn có thể click chuột phải vào file ACSM, chọn Open With... và chọn Adobe Digital Editions trong danh sách ứng dụng. Nếu Adobe Digital Editions không có trong danh sách ứng dụng, bạn hãy tự tay mở Adobe Digital Editions lên, vào menu File > Add to library (hoặc ấn Ctrl + O) để mở file. Bạn cũng có thể kéo thả file ACSM từ cửa sổ Windows Explorer sang cửa sổ Adobe Digital Editions để mở nó.

LƯU Ý QUAN TRỌNG: Nếu bạn tải về được file URLLink.ACSM (chỉ nặng vài KB), nghĩa là bạn chỉ tải được đường link dẫn tới trang web có chứa link tải chứ không phải là file ACSM thực sự. Nếu bạn click đúp vào file URLLink.ACSM này, nó sẽ lại dẫn bạn tới trang tải ban đầu, kèm theo thông báo cần cài đặt Adobe Digital Editions (mặc dù bạn đã có ADE trong máy), quá trình này cứ thế lặp lại và bạn không thể mở nó bằng Adobe Digital Editions.

Cách khắc phục: click chuột phải vào file URLLink.ACSM, chọn Properties, ấn nút Unblock > OK. Sau đó bạn có thể mở nó bằng Adobe Digital Editions một cách bình thường.



Nháy đúp vào file mà bạn vừa nhập vào Adobe Digital Editions, cửa sổ Computer Authorization sẽ hiện ra. Nhập Adobe ID và mật khẩu của bạn. Nếu bạn chưa có Adobe ID, hãy click vào link Create an Adobe ID. Việc tạo Adobe ID (hoàn toàn miễn phí) sẽ giúp bạn quản lý ebook tốt hơn, bạn có thể mở ebook trên nhiều ứng dụng khác nhau, chỉ cần nhập Adobe ID trên các thiết bị đó là được.

Sau khi nhập đúng Adobe ID và mật khẩu, bạn đợi một lát để Adobe Digital Editions tải sách về máy tính với định dạng PDF hoặc ePub như bạn đã chọn. Thư mục lưu file mặc định là Documents My Digital Editions.

5. Sau khi quá trình tải file hoàn tất, bạn vào thư mục Documents My Digital Editions sẽ thấy có file PDF. Nếu bạn click đúp vào file đó để mở nó bằng trình đọc PDF thông thường, nó sẽ báo lỗi:
"This document requires digital rights management (DRM) features supported by Adobe Digital Editions.", vì file PDF đó đã được áp dụng công nghệ DRM. Giờ chúng ta sẽ dùng Calibre để xóa bỏ DRM khỏi file PDF này, nhờ đó có thể mở trực tiếp file PDF này về sau mà không cần thông qua quá trình authorization trên Adobe Digital Editions.



Quay trở lại ứng dụng Calibre và ấn nút Add books để thêm file PDF đó vào thư viện của Calibre. File PDF đó sẽ tự động bị xóa DRM và trở thành một file PDF thông thường. Hãy test lại bằng cách mở file đó với Adobe Reader hay Foxit Reader.

Chúc mừng bạn! File PDF đó đã thực sự là của bạn.

Từ giờ bạn có thể mở file PDF đó với bất cứ ứng dụng đọc file PDF nào như Adobe Reader/Acrobat, Foxit Reader, trên bất cứ thiết bị nào như smartphone/tablet Android, iPhone, Kindle (nhưng phải dùng Calibre để chuyển định dạng về MOBI trước đã).

6. Thay cho Calibre, bạn cũng có thể dùng một số công cụ khác như PDF/ePub DRM Removal (miễn phí) hay eBook DRM Removal (có trả phí).

7. Nếu bạn muốn loại bỏ DRM khỏi các file video, quá trình thực hiện còn đơn giản hơn nhiều. Chỉ có điều bạn phải dùng phần mềm có trả phí để thực hiện việc này, chúng ta có Audials One cho Windows và NoteBurner M4V Converter Plus cho MAC.



DRM (Digital Rights Management) là gì?



DRM là gì?

DRM hay Digital Rights Management (Quản lý bản quyền kỹ thuật số) là những công nghệ kiểm soát truy cập, nó cho phép chủ sở hữu nội dung số như nhạc, phim, sách, phần mềm... kiểm soát tài sản số của họ bằng cách hạn chế số lượng sao chép, thời gian sử dụng phần mềm, phần cứng hoặc nội dung số.

DRM hoạt động thế nào?

DRM sẽ xáo trộn thông tin trong file để người sử dụng không thể đọc được trừ khi có khóa mã hợp pháp. Các file đã "gắn" DRM có thể được gửi qua internet nhưng trở nên vô dụng với những ai không trả tiền mua chúng.



Ai sử dụng DRM?

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ giúp tốc độ đường truyền internet tăng chóng mặt, sự phổ biến của mạng chia sẻ ngang hàng (peer-to-peer), công nghệ rip game, phim, nhạc ngày càng tiện lợi và dễ dàng hơn... tất cả những yếu tố này khiến nạn vi phạm bản quyền và tải lậu nội dung số ngày càng diễn ra phổ biến hơn. Do đó, các công ty sử dụng DRM đầu tiên là các công ty sản xuất nội dung số, như các xưởng phim, hãng thu âm, các hiệu sách và thư viện trực tuyến, các hãng game,...

Vài năm trước, trước sức ép của các hãng sản xuất phim, Netflix và Microsoft, W3C đã đồng ý dùng DRM trong HTML5, và có thể trong tương lai, JPEG cũng sẽ làm vậy với định dạng ảnh rất phổ biến JPEG của mình.

Hạn chế của DRM?

Một trong những vấn đề lớn là các công nghệ DRM không tương thích với nhau, vì thế người sử dụng không nghe nhạc tải từ dịch vụ Napster trên iPod được. Thay đổi nhà cung cấp nhạc hoặc máy nghe nhạc đồng nghĩa với việc những ca khúc mà họ mua trước đó không còn hiệu lực.

Ai ủng hộ DRM?

Nhà sản xuất nội dung số. Hãy tưởng tượng bạn là nhà phát triển game, bạn và ê-kíp của mình bỏ ra hàng ngàn giờ phát triển game, và rồi sáng hôm sau thức dậy, nó đã xuất hiện lậu tràn lan trên mạng internet.

Ai phản đối DRM?

Những người dùng. Họ trả tiền để mua nội dung số, nhưng DRM khiến họ gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng giấy phép đó trên các loại thiết bị khác nhau của mình (PC, tablet, smartphone, eBook reader,...). DRM khiến người dùng hợp pháp (đã bỏ tiền mua giấy phép sử dụng) cảm thấy như mình bị trừng phạt bởi các công ty phân phối, nhưng nguyên nhân lại là do những kẻ dùng lậu gây ra.



Khi bạn mua nội dung số, thực ra bạn mua cái gì?

Khi bạn bỏ tiền ra mua một cuốn sách giấy, bạn sở hữu cuốn sách đó. Bạn có thể cho người khác mượn nó, bạn có thể đọc nó bao nhiêu lần tùy thích, bạn có thể đọc nó trong bao lâu tùy thích, nhưng bạn không thể sao chép nó để phân phát cho những người khác, không thể chỉnh sửa nội dung của nó. Tất nhiên, bạn vẫn có thể cố tình photocopy quyển sách đó rồi phát cho vài người bạn, bạn vẫn có thể viết linh tinh vào cuốn sách đó, đó là điều mà hiệu sách không thể quản lý được.

Với nội dung số cũng gần như vậy, khi bạn mua một nội dung số, bạn không thực sự sở hữu nội dung số đó, mà bạn chỉ mua giấy phép sử dụng nội dung đó mà thôi. Bạn cũng không được quyền phân phối hay chỉnh sửa nội dung số đó. Khác với sách giấy, trong trường hợp này, bạn thực sự không thể chỉnh sửa hay sao chép nội dung số, cho dù bạn cố ý muốn làm vậy. Đó là nhờ công nghệ DRM.

Dựa vào DRM, các hãng sản xuất và phân phối nội dung số có thể quản lý được số thiết bị mà bạn sử dụng để truy cập sản phẩm của họ, cũng như thời gian, số lần đọc nội dung. Họ đồng thời cũng ngăn cản được việc cố tình in ấn, sao chép và chia sẻ nội dung số của họ khi chưa được phép.

Việc loại bỏ công nghệ DRM khỏi nội dung số là vi phạm điều khoản sử dụng giữa bạn và nhà cung cấp. Thông thường, các nhà cung cấp nội dung số như Amazon hay Barnes and Noble sẽ cho phép bạn lưu trữ sách, video mà bạn đã mua lên "đám mây" để bạn có thể tải nó về sau, nhưng thường thì họ sẽ giới hạn chỉ cho phép bạn làm điều đó trên các ứng dụng hay thiết bị độc quyền của họ.



Như vậy, được sinh ra với lý do tốt, nhưng dường như DRM đang bị người dùng ghét bỏ, vì nó gây ra những phiền phức không đáng có với cả những người sử dụng nội dung số một cách hợp pháp. Nếu tôi mua một nội dung số, tôi xứng đáng được xem nó bao nhiêu lần tùy thích, bao nhiêu lâu tùy thích, trên bất cứ thiết bị nào mà thôi thích, bằng bất cứ ứng dụng nào mà tôi thích.

Phải thừa nhận rằng bất cứ một nội dung số nào được tạo ra, cũng đều có nguy cơ bị crack (bẻ khóa) để dùng lậu. DRM cũng không phải ngoại lệ. Việc sử dụng công nghệ hạn chế truy cập DRM chỉ giúp làm khó khăn hơn quá trình sao chép nội dung số, chứ không hoàn toàn ngăn cản được sự xâm phạm bản quyền nội dung số. Và trong cuộc chiến giữa nhà sản xuất nội dung với các hacker chuyên bẻ khóa nội dung số đó, có vẻ như những người dùng chân chính là những người chịu thiệt thòi.

Nếu bạn là người đã bỏ tiền ra mua một nội dung số, và bạn cảm thấy mình xứng đáng được hưởng tất cả những gì tiện ích mà nội dung số đó đem lại, bạn có thể làm theo hướng dẫn ở bài viết Cách loại bỏ DRM khỏi ebook (PDF, ePub,...) và video.


Tự động đăng nhập vào Windows 10



Mặc định trên Windows, mỗi lần khởi động máy, bạn phải nhập mật khẩu hoặc mã pin để có thể đăng nhập vào tài khoản sử dụng của mình. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có thể bạn không muốn phải nhập lại mật khẩu để đăng nhập vào máy, mà muốn hệ thống tự động nhớ mật khẩu và đăng nhập thẳng vào desktop.

Hướng dẫn dưới đây sẽ giúp bạn điều chỉnh thiết đặt để Windows 10 tự động đăng nhập vào tài khoản Microsoft hoặc tài khoản nội bộ trên máy, người dùng không phải tự tay nhập mật khẩu mỗi lần bật máy nữa.

Lưu ý:
  • Để thực hiện việc này, bạn phải đăng nhập với quyền Admin.
  • Hướng dẫn này có thể áp dụng trên Windows 10/8.1/8/7/Vista
Cách thực hiện như sau:

1. Ấn đồng thời phím Windows + S, gõ: netplwiz và ấn Enter để mở User Accounts.

Hoặc bạn cũng có thể ấn Windows + R để mở hộp Run, gõ netplwiz hoặc control userpasswords2 rồi ấn Enter.

Run netplwiz


2. Nếu hộp thoại User Account Control hiện ra, ấn Yes.

User Account Control


3. Trong cửa sổ User Accounts, click chọn tài khoản mà bạn muốn đăng nhập tự động vào Windows mỗi lần bật máy, sau đó bỏ dấu tích ở mục Users must enter a user name and password to use this computer và ấn OK.

Users must enter a user name and password to use this computer


4. Một hộp thoại nhập mật khẩu sẽ hiện ra, bạn gõ mật khẩu vào đó 2 lần là xong.



Lưu ý: nếu tài khoản đang dùng không có mật khẩu đăng nhập, thì chỉ việc để trống 2 ô đó, và ấn OK.

Đã xong, từ giờ mỗi lần khởi động máy, Windows sẽ bỏ qua màn hình nhập mật khẩu, và đăng nhập thẳng vào trong desktop.

Lưu ý: Nếu sau khi thực hiện các bước trong hướng dẫn trên, mà sau này bạn:
  • đổi mật khẩu của tài khoản Microsoft mà bạn đang dùng để đăng nhập tự động vào máy, bạn cần thực hiện lại các bước trên để cập nhật mật khẩu dùng trong bước 4.
  • đổi tên của máy tính hiện tại, thì bạn sẽ thấy một tài khoản tên "Other user" đăng nhập lỗi khi khởi động, và bạn phải tự tay chọn tài khoản để đăng nhập. Lúc đó bạn sẽ phải thực hiện lại các bước trên để chọn lại tài khoản bạn muốn tự động đăng nhập.


[REVIEW] Microsoft Office 2016 có gì mới?



Với khoảng 1,2 tỷ người dùng trên toàn thế giới, Microsoft Office là một trong những ứng dụng được nhiều người sử dụng nhất: cứ 7 người thì có 1 người dùng nó.

Từ phiên bản Office 2007 (Office 12) tới nay, Office không có nhiều thay đổi về thiết kế giao diện. Có vẻ như từ sau khi đưa giao diện ribbon lên Office 2007, Microsoft đã ít quan tâm hơn tới việc thiết kế một giao diện hoàn toàn mới, vốn sẽ gây khó khăn cho người dùng sau một thời gian họ đã quen thuộc với giao diện cũ, mà tập trung hơn vào việc nâng cao trải nghiệm người dùng. Với việc cải tiến và đưa vào nhiều nâng cấp nhỏ, giúp người dùng dễ dàng hơn trong việc biên tập tài liệu với Word, làm việc thông minh hơn với bảng tính trong Excel, tạo bài trình chiếu dễ dàng và chuyên nghiệp hơn trong PowerPoint, quản lý và soạn thảo email tiện lợi hơi với Outlook,… Office 2013 (Office 15) gần như đã tiệm cận tới độ hoàn hảo của một bộ công cụ ứng dụng văn phòng.

Phải mất tới 3 năm để Microsoft ra mắt phiên bản mới Office 2016 (Office 16). Hãy cùng xem Microsoft đã mang tới những gì trong phiên bản mới nhất của bộ ứng dụng văn phòng này.

Cài đặt

Điều ngạc nhiên đầu tiên mà Microsoft mang tới là quá trình cài đặt hết sức đơn giản. Chỉ cần ấn nút Install, đợi một lát, và phiên bản Office 2016 sẽ sẵn sàng để sử dụng. Không thiết đặt, không tùy chỉnh, không nhập tên tuổi hay công ty gì hết, chỉ một click là xong.



Giao diện

Lần đầu mở Word, Excel, PowerPoint 2016, có thể bạn sẽ nhầm lẫn nó với phiên bản 2013. Microsoft hầu như không thay đổi gì nhiều về giao diện của các ứng dụng này. Vẫn là thanh ribbon quen thuộc với các nhóm lệnh như vậy. Điều thay đổi lớn nhất là màu sắc giao diện mặc định đã được chuyển thành “Colorful theme” thay cho “White theme” mặc định trên 2013. Vì vậy, mặc định thanh tiêu đề của ứng dụng Word 2016 sẽ có màu xanh lam sẫm, Excel 2016 màu xanh lá cây, PowerPoint màu da cam. Bạn có thể chuyển đổi các theme này trong mục File > Account > Office Theme.



Một chi tiết nhỏ nhưng rất được mong đợi trên Office 2016: tên của các thẻ trên thanh ribbon giờ đã là các chữ viết thường, thay vì VIẾT HOA TOÀN BỘ như trên Office 2013 trước đây, vốn bị rất nhiều người dùng chê bai vì gây rối mắt khi làm việc. Ngoài ra, hiệu ứng khi đưa chuột lên các thẻ ribbon cũng được thêm vào để người dùng dễ dàng nhận biết khi thao tác hơn.

Cập nhật

Microsoft đã thêm các tùy chọn cho phép người dùng quản lý việc cập nhật cho các ứng dụng Office 2016, tính năng này không có trên phiên bản 2013.



Vào menu File > Account và bạn sẽ thấy một số tùy chọn cập nhật trong mục "Office Updates", tại đây bạn có thể kiểm tra bản cập nhật, tắt cập nhật hoặc xem lịch sử cài đặt các cập nhật của Office.

Smart Lookup (Insights)

Smart Lookup (hay còn có tên khác là Insights from Bing) đã có trên Word, Outlook, và giờ Microsoft đã đem nó lên Excel và PowerPoint. Đây là tính năng giúp bạn tìm kiếm một từ hay cụm từ xuất hiện trong tài liệu mà bạn đang làm việc, từ đó bạn có thể kiểm tra thông tin một cách nhanh nhất mà không cần phải chuyển qua một cửa sổ khác. Kết quả tìm kiếm được lấy từ nhiều nguồn khác nhau như Bing Snapshot, Bing image search, Wikipedia, và từ điển Oxford.



Để mở Smart Lookup, bạn có thể bôi đen từ hoặc cụm từ cần tra cứu, click chuột phải, chọn Smart Lookup, hoặc mở thẻ Review trên thanh ribbon, hoặc từ hộp tìm kiếm “Tell me” mà chúng ta sẽ nói tới ở phần sau. Bạn có thể để con trỏ chuột ở bất cứ vị trí nào (mà không cần bôi đen) để sử dụng chức năng Smart Lookup. Tính năng Smart Lookup sẽ tự động tìm kiếm dựa trên từ khóa và nội dung xung quanh đó để trả về thông tin gần nhất.



Trên Excel, Smart Lookup còn có thể tìm kiếm dựa theo công thức trong các ô của bảng tính. Giả sử bạn gõ công thức tính diện tích hình tròn: A = Πr², Smart Lookup sẽ trả về kết quả là các trang có chứa thông tin về công thức này. Lưu ý rằng việc click tiếp vào các link trong kết quả ở thẻ Explore của Insights sẽ mở website đó trên trình duyệt, còn thẻ Define thì sẽ hiển thị các định nghĩa trực tiếp trong Word, Excel, PowerPoint, Outlook. Như vậy, nếu muốn tìm kiểu sâu hơn về thứ bạn đang “lookup”, bạn vẫn phải rời khỏi Office để mở kết quả đó trên trình duyệt.

Tìm kiếm với Tell Me

Bạn còn nhớ cái kẹp giấy đáng yêu với đôi mắt trố lồi có tên là Clippy (thực ra là Clippit) trên các phiên bản Office 97-2003 không? Microsoft đã hồi sinh “cô” thư ký văn phòng này trên Office 2016 với cái tên Tell Me. Thực ra đây là một hộp thoại nhỏ trên thanh ribbon chứ không còn là cái kẹp giấy nữa (để tránh gây phiền phức cho người dùng khi nó cứ nhảy nhót trên màn hình), nhưng nó đã được cải tiến thông minh hơn hẳn. Bạn có thể tìm kiếm ở Tell Me với ngôn ngữ tự nhiên hoặc sử dụng những từ khóa ngắn gọn. Tell Me có trên tất cả các ứng dụng của bộ Office 2016, trừ Publisher, OneNote và Skype.



Rất nhiều tính năng của Office mà có lẽ cả chục năm qua bạn cũng chưa hề động tới, thậm chí bạn còn chẳng biết là các lệnh đó có tồn tại. Đó cũng là lý do ra đời của Tell Me. Chỉ cần gõ từ khóa vào ô tìm kiếm của Tell Me, các nút lệnh có liên quan sẽ hiện ra ngay lập tức. Bạn còn có thể xem chi tiết về các lệnh đó ở tùy chọn Get Help hoặc Smart Lookup được tích hợp trong Tell Me.



Nhiều định dạng Quick Shape hơn

Word, Excel và PowerPoint đã có thêm nhiều định dạng phong cách mới cho những hình vẽ mà bạn tạo ra. Chỉ việc click chọn hình vẽ, mở thẻ Format và chọn preset mà bạn muốn áp dụng.



Làm việc theo nhóm theo thời gian thực

Cuối cùng, sau nhiều năm, với việc ra mắt Office 2016, Microsoft đã bắt kịp còn lâu mới bắt kịp Google trong việc hỗ trợ biên tập tài liệu theo nhóm. Tính năng hợp tác làm việc này có trên Word và PowerPoint 2016. Nhiều người có thể cùng lúc tạo và chỉnh sửa một tài liệu, miễn là họ làm việc trên Office Online hoặc Office trên máy tính.

Để có thể làm việc theo nhóm trên cùng một tài liệu, bạn phải chia sẻ tài liệu đó cho đồng nghiệp bằng chức năng Share nằm ở góc trên cùng bên phải cửa sổ ứng dụng (có trên Word, Excel và PowerPoint). Sau khi ấn nút Share, thanh Share sẽ hiện ra, bạn ấn nút Save to Cloud để lưu tài liệu vào một thư mục mà bạn đã chia sẻ trên OneDrive.



Lưu ý rằng: tài liệu đó chỉ có thể được xem hoặc chỉnh sửa bởi những người khác nếu bạn đã chia sẻ thư mục chứa tài liệu đó trên OneDrive. Nếu không, sẽ chỉ mình bạn thấy được tài liệu đó.

Giờ bạn đã có thể thấy được những ai cùng tham gia biên tập tài liệu đó thông qua nút Share ở trên. Những gì người khác đang gõ sẽ trực tiếp hiện ra trên chính màn hình của họ (chỉ có trên Word 2016). Sẽ có những “lá cờ” đánh dấu những đoạn nội dung nào do ai đang chỉnh sửa.



Bạn thậm chí có thể gửi link tài liệu cho những người hiện không đăng nhập vào tài khoản nào, họ sẽ tham gia biên tập với vai trò “khách mời” (guest).



Trong trường hợp tài liệu bị chỉnh sửa quá mức cần thiết, bạn có thể khôi phục nó trở lại tình trạng trước kia dựa vào tính năng xem và quản lý lịch sử file. Mở tài liệu bạn đang làm việc, vào File > History để xem toàn bộ các phiên bản lịch sử của tài liệu đó, tại đây bạn click vào một phiên bản bất kỳ để mở phiên bản tài liệu đó trong một cửa sổ mới. Lúc này sẽ xuất hiện một thanh công cụ với 2 tùy chọn là Compare Restore. Chọn Compare để so sánh nội dung của 2 phiên bản tài liệu, và chọn Restore nếu bạn muốn quay lại lịch sử của file đó. Mọi chỉnh sửa của người dùng tính từ thời điểm lưu phiên bản file lịch sử đó sẽ bị xóa sạch.



Tuy nhiên, trải nghiệm làm việc theo nhóm của bản thân tôi đã diễn ra một cách tồi tệ. (Đoạn này hơi dài và kể nể nhiều về trải nghiệm bản thân, nên nếu không muốn xem, bạn có thể chuyển luôn qua đoạn sau để xem tiếp tính năng Ink Equation trong Office 2016).

Đầu tiên phải kể tới là nút Share lúc được lúc không: Khi ấn Share, tôi được chuyển tới BackStage để lưu file vào OneDrive (bạn không thể lưu vào ổ cứng, vì như thế không thể share cho người khác được). Nhưng sau khi đã lưu thành công vào OneDrive, chẳng có gì thay đổi hết! Hộp thoại share không hiện ra nên không thể chia sẻ cho người khác được. Cực chẳng đã, tôi đành phải share thủ công ở BackStage của Word.

Sau khi người được mời mở tài liệu tôi gửi và chỉnh sửa nó trực tuyến trên Office Online, thì những gì họ viết chẳng hề được cập nhật theo thời gian thực trên máy tính của tôi. Chính xác là mất khoảng chục giây sau thì Word của tôi mới cập nhật nội dung được chỉnh sửa. Tôi phát hiện ra rằng lý do cho sự chậm trễ này là do OneDrive (client cài trên máy) đồng bộ quá chậm, nó mất tới vài chục giây để load một file docx nặng vỏn vẹn có... 20 KB. Trải nghiệm này đâu có xứng đáng được gọi là "real-time" được. Mà đấy mới chỉ là text đơn thuần thôi nhé, còn định dạng chữ và ảnh thì còn chậm hơn rất rất nhiều nữa.

Thê thảm hơn, những gì người khác chỉnh sửa, tôi không hề thấy ghi danh tính trên nội dung đó. Nói cách khác, tôi chẳng biết ai đã chỉnh sửa đoạn nào. Cho tới giờ đã vài chục phút sau khi "cùng biên tập" tài liệu, tôi vẫn chưa thấy nó hiện tên.

Mặc dù nhiều người khác hết lời ca ngợi tính năng biên tập tài liệu nhóm theo thời gian thực của Word, nhưng đối với tôi, tính năng này hiện hoàn toàn vô dụng. Có thể trên hệ thống của tôi, nó bị lỗi, nhưng nếu nó hoạt động không ổn định như vậy thì không thể coi là một sản phẩm hoàn hảo được, ít nhất là với phiên bản chính thức đã tung ra thị trường rộng rãi như vậy.

Nói tóm lại, đối với cá nhân tôi, còn lâu nữa Microsoft mới có thể đuổi kịp Google trong việc hợp tác làm việc nhóm.

Hết đoạn kể nể.


Chuyển đổi công thức viết tay thành văn bản với Ink Equation

Trong ứng dụng Word, Excel, PowerPoint còn có thêm chức năng mới được gọi là “Ink Equation”, hay "công thức viết tay". Tính năng này cho phép bạn chèn các biểu thức toán học, vật lý, hóa học,… bằng cách sử dụng chuột, bút hay viết trực tiếp bằng tay bạn trên các thiết bị có màn hình cảm ứng.

Để sử dụng chức năng này, bạn vào thẻ Insert > Equation, và trong thẻ Design mới hiện ra, chọn nút Equation. Khoan đã! Tại sao chúng ta lại không dùng chức năng Tell Me siêu tiện lợi vừa nhắc tới ở trên nhỉ? Bạn chỉ cần gõ Ink Equation trong hộp tìm kiếm Tell Me và ấn Enter là xong. Max tiện!



Nhớ rằng bạn cần “viết” một cách rõ ràng nhất có thể, tránh việc “nhấc bút” quá nhiều, vì đặc điểm của toán học là có rất nhiều các ký tự của người ngoài hành tinh,… nên nó có thể nhận dạng nhầm các ký tự đơn giản trong bảng alphabet thành các ký tự tới từ các nền văn minh ngoài Trái Đất. Nhưng đừng lo, Microsoft có cung cấp sẵn công cụ để bạn chọn lựa trong trường hợp Ink Equation không nhận dạng đúng thứ mà bạn mong muốn. Bạn chỉ việc ấn nút Select and Correct, và tất cả những kết quả mà nó có thể nhận dạng đều có sẵn ở đây cho bạn chọn lựa.

Outlook 2016

Outlook 2016 là ứng dụng có nhiều thay đổi nhất trong bộ Office 2016. Chúng ta thường ngập đầu với hàng đống email (thư điện tử) được gửi tới mỗi ngày, điều này khiến người dùng dễ bỏ qua những email quan trọng. Vì thế Microsoft đã tạo ra một thư mục có tên “Clutter” trong Outlook, các thư “có vẻ” không quan trọng sẽ được chuyển thẳng vào đây chứ không nằm trong Inbox nữa.

Ở lần chạy đầu tiên, Outlook sẽ đoán xem những email nào nên cho vào thư mục Clutter, đó có thể là các email quảng cáo hay mời chào,… Theo thời gian, Outlook sẽ “học” cách bạn quản lý email: những kiểu email nào bạn thường bỏ qua, thường xóa, hoặc thường mở ra xem, từ đó, nó sẽ quyết định những email nào nên cho vào Clutter để Inbox của bạn gọn gàng hơn.



Nhớ rằng lúc mới dùng, bạn nên kiểm tra thư mục Clutter thường xuyên, để đảm bảo rằng Outlook không “quá tay” khi chuyển nhầm những email quan trọng của bạn vào đó. Nếu nó nhầm, bạn chỉ cần chuyển lại email đó về Inbox, và Outlook sẽ “học” hành động đó để phân loại chính xác hơn ở những lần sau. Lưu ý rằng Clutter không phải là hệ thống lọc spam vốn có sẵn từ lâu trên các trình quản lý email, nó là một công cụ với khả năng “học” để phân loại các email hiệu quả hơn. Tôi chưa có thời gian đủ lâu để xem Outlook có làm việc chính xác trong việc phân loại thư không, nhưng nếu Outlook có thể làm việc thông minh như Gmail hiện tại thì đã là quá tốt rồi. Hy vọng là thế.

Microsoft có cải tiến một vài tính năng, chủ yếu để chúng ta làm việc tiện lợi hơn, đáng kể nhất là cải tiến chức năng đính kèm file. Khi click nút Attach File, trình đơn Recent Items sẽ hiện ra cho bạn chọn các file mới sử dụng gần đây. Đây là cải tiến rất thông minh, vì thông thường, chúng ta hay chỉnh sửa một tài liệu nào đó, sau đó mở Outlook để gửi nó đi. Như vậy sẽ đỡ mất thời gian tìm kiếm file đó trên ổ đĩa. Tất nhiên bạn vẫn có lựa chọn duyệt file để tìm và đính kèm một file khác với tùy chọn Browse Web Locations (tìm trong OneDrive, Sites,…) hoặc Browse This PC (tìm trong máy tính).

Sau khi đính kèm file, bạn còn có tùy chọn thay đổi quyền được xem hoặc quyền được chỉnh sửa của người nhận thư. Chỉ cần click vào tên file đã đính kèm, bạn sẽ thấy các tùy chọn này.



Nhớ rằng: nếu bạn chọn một file trong thư mục đã chia sẻ trên OneDrive để đính kèm trong thư, thực ra chỉ có một đường link tới file đó được gửi cho người nhận. Tức là người nhận sẽ click vào link đó để mở trang web chứa file bạn gửi (vẫn nằm trong thư mục đã chia sẻ trên OneDrive của bạn). Nếu bạn muốn gửi một file đính kèm thực sự cho họ (chứ không phải là đường link tới file chia sẻ như trên), bạn cần đánh dấu vào mục Attach as copy.

Excel 2016

Microsoft đã trang bị thêm cho ứng dụng bảng tính mạnh mẽ nhất thế giới này tính năng One-Click Forecasting, nó giúp Excel tự động quét toàn bộ bảng tính của bạn, tìm xu hướng thay đổi của dữ liệu và tổng hợp nó vào các bảng và biểu đồ chỉ với một cú click chuột.



Ngoài ra còn một số cải tiến giúp tăng sức mạnh tính toán và phân tích dữ liệu của Excel, sẽ mất một thời gian để chúng ta tìm hiểu sâu hơn.

Sway

Một trong những ứng dụng mới hỗ trợ cho xu thế làm việc nhóm, chia sẻ và lưu trữ "trên mây" mà Microsoft mới ra mắt là Sway. Ứng dụng này không có sẵn trong bộ cài Office 2016, mà được Microsoft cung cấp online, và hoàn toàn miễn phí.

Một cách ngắn gọn, Sway là ứng dụng giúp bạn tạo ra một trang web từ ảnh và chữ một cách nhanh chóng và dễ dàng nhất. Cũng có thể coi Sway như một phiên bản thu gọn (và vui vẻ) của PowerPoint. Nếu bạn có vài bức ảnh muốn chia sẻ với người thân, chỉ mất vài phút với Sway, bạn đã có thể tạo ra một trang web tuyệt đẹp mà không cần biết chút gì về lập trình, thiết kế,... Và vì Sway chạy trên nền web, nên bạn cũng chẳng cần cài đặt nó, chỉ cần có kết nối mạng, cộng với vài ý tưởng hay ho là xong. Tôi sẽ có bài viết hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Sway sau, nhưng hiện tại, có thể nói Sway là ứng dụng rất đáng giá xuất hiện cùng Office 2016.


KẾT LUẬN

Không thể phủ nhận rằng Microsoft đã trang bị cho các ứng dụng của bộ công cụ Office rất nhiều tính năng đáng giá và hữu ích. Trong đó, tôi đặc biệt đánh giá cao Tell Me, Smart Lookup và các cải tiến trong phân tích và tính toán dữ liệu của Excel như 1-click forecasting, PowerPivot,... cũng như những nâng cấp về sự an toàn của các ứng dụng Office 2016. Một số những nhỏ cải tiến khác không được nêu thành mục ở trên, nhưng nó cũng giúp người dùng làm việc hiệu quả và dễ dàng hơn so với các phiên bản Office trước đây.

Tuy nhiên, tính năng được coi là con át chủ bài của Microsoft Office là chỉnh sửa tài liệu theo thời gian thực lại làm việc không như mong đợi. Nó thiếu ổn định và có độ trễ quá lớn. Hy vọng Microsoft sẽ khắc phục trong các bản cập nhật sắp tới.

Câu hỏi đặt ra là: Nếu bạn đang sử dụng Office 2013, liệu bạn có nên nâng cấp lên phiên bản Office 2016?

Câu trả lời còn phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể. Nếu bạn sử dụng Outlook làm ứng dụng quản lý email mặc định, nếu bạn sử dụng Excel như một công cụ tính toán chính cho công việc của mình, đồng thời, bạn cần biên tập tài liệu Word cùng nhiều người khác cùng lúc, thì có thể xem xét việc nâng cấp lên Office 2016. Nếu không, tôi cho rằng Office 2016 chưa đủ thuyết phục để bạn nâng cấp, Office 2013 hoàn toàn đáp ứng tốt nhu cầu của bạn, và có thể còn hơn thế nữa.

Nếu muốn cùng biên tập một tài liệu với nhóm nhiều người, bạn có thể sử dụng Google Docs thay thế. Theo kinh nghiệm bản thân, tôi thấy Google Docs đang làm tốt hơn Word 2016 rất nhiều trong việc hỗ trợ chỉnh sửa tài liệu theo thời gian thực.

Xét cho cùng, Office 2016 vẫn là bộ công cụ văn phòng tốt nhất cho tới hiện tại, chỉ có điều, nó vẫn chưa thực sự hoàn hảo.


Cách chụp ảnh màn hình đăng nhập Windows



Trên Windows, chúng ta có nhiều cách để chụp ảnh màn hình, nhưng để chụp ảnh màn hình đăng nhập (logon screen) thì không phải dễ. Bài viết này sẽ giúp bạn thực hiện điều đó.

Một điều bạn cần biết là màn hình đăng nhập chạy trên Winlogon, một môi trường cách biệt với Windows mà chúng ta vẫn thường làm việc. Trên Winlogon, chỉ có một số ứng dụng do Microsoft chỉ định mới có thể chạy được. Vì thế, để có thể chụp ảnh màn hình đăng nhập hoặc màn hình khóa (lock screen), chúng ta cần phải mở được các ứng dụng khác trên Winlogon. Chúng ta sẽ thực hiện điều này nhờ vào PsExec command, một ứng dụng trong bộ công cụ Sysinternals của Microsoft.

Bài viết này hướng dẫn trên Windows 10. Với Windows 8.1/8/7, thực hiện tương tự.

Cách thực hiện như sau:

1. Tải PsExec command từ trang chủ Microsoft, giải nén file PsExec.exe vào thư mục C:\Windows\System32

2. Tiếp đến, ấn tổ hợp phím Win + S để mở khung tìm kiếm (hoặc dùng chức năng tìm kiếm trên Windows 8.1/8/7), gõ cmd. Click chuột phải vào kết quả tìm kiếm Command Prompt và chọn Run as administrator.



3. Trong cửa sổ Command Prompt, gõ dòng lệnh: cd C:\Windows\System32, và ấn Enter.

Mẹo: Bạn có thể copy dòng lệnh trên, và paste nó vào Command Prompt bằng cách click chuột phải trong cửa sổ Command Prompt và chọn Paste.

4. Gõ tiếp lệnh: psexec -sx cmd.exe và ấn Enter.



Tùy chọn s là để PsExec khởi động ứng dụng, còn x là để khởi động trong môi trường Winlogon.

5. Đã chuẩn bị xong, giờ bạn ấn tổ hợp phím Win + L để trở ra màn hình khóa, sau đó click chuột hoặc ấn một phím bất kỳ để mở màn hình đăng nhập. Ấn tổ hợp phím Alt + Tab để trở lại cửa sổ Command Prompt.



6. Chúng ta sẽ cần khởi động ứng dụng chụp ảnh màn hình, đơn giản nhất là dùng Snipping Tool có sẵn của Windows. Trong cửa sổ Command Prompt, gõ: C:\Windows\System32\SnippingTool và ấn Enter.



7. Ứng dụng Snipping Tool đã chạy, ấn phím New để thực hiện việc chụp ảnh màn hình, chọn vùng bạn cần chụp bằng cách kéo chuột trên màn hình, hoặc chọn Full-screen Snip nếu bạn muốn chụp toàn bộ màn hình.



8. Sau khi chụp, cửa sổ lưu file sẽ hiện ra. Bạn không thể ấn nút Save để lưu thành file ảnh theo cách thông thường, vì Windows Explorer không thể khởi động được tại đây. Hãy ấn nút Copy trên thanh công cụ của Snipping Tool, sau đó nhập password để đăng nhập vào desktop.



9. Cuối cùng, ấn Win + S, tìm và mở ứng dụng Paint, ấn tổ hợp Ctrl + V để paste hình ảnh chúng ta vừa chụp vào Paint, rồi ấn nút Save để lưu ra file ảnh theo định dạng mà bạn muốn (PNG, JPEG,...).

10. Đừng quên tắt PsExec service, chúng ta đã dùng nó xong rồi. Ấn tổ hợp Ctrl + Shift + Esc (hoặc click chuột phải vào Taskbar > Task Manager). Trong cửa sổ Task Manager, chuyển tới thẻ Services. Click chuột phải vào service PSEXEVC và click chuột phải, chọn Stop. Trở lại thư mục C:\Windows\System32, xóa file PsExec.exe là xong.



Chúc các bạn thành công!




Cách chụp ảnh màn hình trên Windows



Khi viết bài hướng dẫn, biên tập tài liệu, gửi thông tin sự cố máy tính hay thậm chí là chát chít với bạn bè, đôi khi bạn cần gửi ảnh chụp màn hình cho một ai đó. Chúng ta có những cách nào để thực hiện việc chụp ảnh màn hình trên Windows? Hãy cùng xem.

1. Cách cổ xưa nhất, tất nhiên là dùng phím Print Screen (PrtScn) trên bàn phím. Cách này có thể thực hiện trên các phiên bản Windows XP/Vista/7/8/8.1/10.

Sau khi ấn phím Print Screen, ảnh của toàn bộ màn hình hiện tại (full-screen) sẽ được lưu vào bộ nhớ tạm của hệ thống (clipboard). Để lưu nó thành file ảnh, bạn mở một ứng dụng như Paint chẳng hạn, rồi paste nó vào đó (phím tắt: Ctrl + V), sau đó chọn File > Save và chọn định dạng file muốn lưu (PNG, JPEG,...).



2. Để chụp riêng một cửa sổ mà bạn chọn (cửa sổ mà bạn đang làm việc trên đó), hãy ấn tổ hợp phím Alt + PrtScn. Sau đó vẫn lưu ảnh như cách 1 ở trên.



3. Từ Windows 8 trở lên, chúng ta có thêm tính năng chụp và lưu ảnh trực tiếp vào ổ cứng. Ấn tổ hợp phím Windows + PrtScn (màn hình sẽ nháy một phát), ảnh sẽ được lưu trữ vào thư mục Picture > Screenshots. Cách này chỉ chụp được toàn màn hình (full-screen), không thể chụp riêng một cửa sổ).



Mẹo: để thay đổi vị trí thư mục Screenshots, click chuột phải vào nó, chọn Properties > Location > ấn nút Move và chọn thư mục bạn muốn. Windows sẽ hỏi có chuyển hết các ảnh trong thư mục Screenshots ở vị trí cũ sang nơi mới hay không, bạn nên chọn Yes.
Để chuyển lại vị trí thư mục Screenshots về mặc định, bạn làm như trên, nhưng không ấn nút Move, mà ấn nút Restore Default > OK.

4. Cách chuyên nghiệp hơn là dùng ứng dụng Snipping Tool có sẵn trên tất cả các phiên bản Windows (trừ Windows XP và các phiên bản Windows Starter, Basic). Để mở ứng dụng này, bạn ấn tổ hợp Win + S và tìm với từ khóa "snip".



Ứng dụng này có sẵn một số tùy chọn để chụp như:
  • Free-from Snip: Chụp một vùng tự do (do bạn tự khoanh bằng tay)
  • Rectangular Snip: Chụp một vùng hình vuông hoặc chữ nhật
  • Windows Snip: Chụp một cửa sổ
  • Full-screen Snip: Chụp toàn màn hình
Sau khi chụp, còn có các tùy chọn khác như: vẽ lên hình chụp, bôi màu (highlight) một vùng trên ảnh để làm nổi bật, gửi ảnh qua email, lưu ảnh thành file PNG, JPEG, BMP,...

5. Trên điện thoại Windows Phone 8.1: ấn cùng lúc nút nguồn (Power) và nút tăng âm lượng (Volume-up) để chụp ảnh màn hình. Còn trên điện thoại Windows Phone 8: ấn cùng lúc nút Start và nút nguồn. Ảnh được lưu trong mục Photos Hub.




6. Trên máy tính bảng Windows, ấn cùng lúc nút Windows và nút giảm âm lượng (Volume-down) để chụp ảnh màn hình. Ảnh sẽ được lưu trong Thư Viện Ảnh.

7. Ngoài ra, bạn có thể chụp ảnh màn hình game trên Windows 10 bằng cách dùng Game bar của ứng dụng Xbox. Trong ứng dụng Xbox, vào điều chỉnh Settings của Game DVR, bật tính năng Take screenshots using Game DVR (thành On) và chọn phím tắt trong mục Keyboard shortcuts (mặc định là Win + G).



Trong cửa sổ game đang mở, bạn tổ hợp ấn phím Win + G, sẽ có một hộp thoại hiện lên, click vào “Yes, this is a game”, sau đó click vào biểu tượng camera, hoặc dùng tổ hợp Win + Alt + PrtScn để chụp ảnh cửa sổ game. Ảnh sẽ được lưu tự động trong C:\Users\[Tên của bạn]\Videos\Captures.

Trên đây là tất cả những cách mà Microsoft có thể nghĩ ra (cho đến hiện tại) để chụp ảnh màn hình desktop trên hệ điều hành Windows. Để chụp ảnh màn hình đăng nhập windows logon, bạn cần tới cách khác, xem hướng dẫn chi tiết tại đây.


Font tiếng Việt (mã unicode) dùng cho truyện tranh




Trước nay một số các tác giả trẻ hay các nhóm Việt hóa truyện tranh vẫn thường sử dụng một số font truyện tranh của họa sĩ Nguyễn Lân Hùng trong các tác phẩm của mình, nhưng các font này đều được chú Hùng thiết kế theo mã Bachkhoa HCM2 vì lý do bản quyền với công ty VNI. Vì thế, khi sử dụng, hoặc là người dùng phải sử dụng bảng mã VNI, hoặc là phải chuyển đổi về bảng mã unicode bằng phần mềm Unikey, Vietkey rất mất thời gian. Đó là lý do chú Lân Hùng đã thiết kế lại các font truyện tranh này theo bảng mã unicode rất thông dụng hiện nay.

Đặc điểm của bộ font này:

  • Gõ tiếng Việt theo mã unicode
  • Dùng bất cứ kiểu gõ nào: Telex, VNI, VIQR,...
  • Tương thích tất cả các phần mềm: Photoshop, CorelDRAW, Illustrator, AutoCAD, MS Office,...

Mời các bạn tải về sử dụng:
http://hunglan.com/share/hlcomicuni.rar
hoặc:
https://tenlua.vn/download/0d37e62ee703690f1a30/fonthlcomicunicode
hoặc:
https://mega.nz/#!xBhinShR!9hRiIrTrDS9MNDOy7MW_7GYVuOYdN737r6AU5rn2UGE